Dạo Kiên mới về, Sinh còn chống gậy nhúc nhắc được, sau phải đành nằm bẹp. Các bác sĩ lấy làm lạ không hiểu vì sao cái vết thương cột sống kinh khủng ấy không lượm Sinh ngay trong chiến tranh mà nấn ná lâu thế mới giáng họa. Y học bó tay, họ bảo thế, càng chữa chạy càng khổ sở và người thân càng điêu linh vì hầu hạ phục dịch. Ròng rã như thế đã bốn năm giời. BỐ mẹ Sinh đã qua đời.
Người anh trai có gia đình. Phòng họ ở
tầng một, sâu cuối hành lang, tối tăm, ẩm thấp, cửa sổ hướng trực diện nhà vệ
sinh. Kiên đẩy cửa bước vào. Trong buồng mờ tối. Hai đứa bé và một người đàn bà
hom hem - chị dâu của Sinh, đang ngồi giữa nền nhà hí húi cắt dán những hộp bìa
các tông gia công cho xí nghiệp bánh kẹo. Không ai ngẩng lên.
💥Mua sách Nỗi buồn chiến tranh tại đây 💥
- Anh ấy thế nào rồi? - Kiên khẽ hỏi.
- Vẫn thế, còn thở - Bà chị dâu ngán
ngẩm đáp - Ai đến thăm cũng chịu chú ấy giỏi kéo dài.
Nói đoạn chị thở dài đánh sượt. Người
ốm nằm trên một chiếc chõng tre kê giúi trong xó. Kiên lại gần. Mùi hôi thối lợm
giọng. Chăn chiếu bẩn thỉu. Đầu Sinh trụi hết tóc, đen sạm, quắt queo như cái gộc
cây Mũi dẹt lét chỉ còn cái sống mảnh như lưỡi dao. Môi má chẳng thấy, chỉ thấy
hai hàm răng và hai hố mắt, không rõ nhắm hay mở. Kiên cúi xuống, hỏi:
- Nhận ra mình không Sinh?
Vẫn nhận ra đấy Chị dâu nói chõ tới,
cơ mà chả nói nổi, còn hơi nữa đâu mà nói.
- Có ăn uống được gì không?
- Vẫn, nhưng lại tự tháo ra hết. Vậy
mà vẫn cứ gượng. Khổ lắm thay!
Kiên ngồi xuống chiếc ghế bên chõng.
Chẳng biết nói gì. Ngồi mười lăm, hai mươi
phút. Nhìn kỹ mới thấy tấm chăn chiên nâng hạ chút ít theo một thứ nhịp thở nào
đó. Trong phòng im ắng. Thỉnh thoảng mới nghe tiếng bà chị dâu lẩm bẩm gì đấy Huấn,
ông anh trai của Sinh nằm ngáy trên gác xép, chếch bên trên chỗ Sinh. Khổ thân
Sinh, nhà thơ của lớp 10A, đáng thương thay Hồi hè, có lần Kiên vào bệnh viện
thăm Sinh.
Bấy giờ hy vọng khỏi đã lụi hẳn nhưng
Sinh còn cử động được đôi chút, còn có thể ngồi xe đẩy và đầu óc hoàn toàn tỉnh
táo. Khác với nhiều người mắc phải nan y cầm chắc sẽ chết, Sinh không tự dối
mình về tình trạng vô phương của bản thân, song anh không rên rỉ, than thân
trách phận, luôn luôn anh cố gắng để không làm rầu lòng người đến thăm, không
tìm cách trút sang bạn nỗi bất hạnh của mình.
Khuôn mặt xanh lướt cố rạng rỡ, anh cố
mỉm cười, và dịu dàng,. với giọng nói yếu ớt, anh khơi mạch chuyện vãn, chủ động
kéo Kiên vào những mẩu hồi ức học trò, những kỷ niệm về các cô bạn học, các thầy
cô giáo, những ký ức lảng xa cảnh ngộ của anh. Rồi với vẻ chăm chú hết mức, ngạc
nhiên, say mê, hiếu kỳ, đầy tin tưởng, anh làm như thể hoàn toàn bị lôi cuốn
vào những chuyện Kiên kể. Gật gù, nhướn cao cặp lông mày, anh thẩm thì:
"Thế kia à? Tuyệt thật... Thú vị nhỉ... Oà, cô ấy là như vậy đấy, đáng yêu
thật... à, mình nhớ ra rồi, chà, chuyện đó mới thực là nhộn...".
Kiên đẩy chiếc xe lăn đưa Sinh ra vãn
cảnh khu vườn hoa của bệnh viện.
Chiều hè yên ả, không khí thoáng
đãng. Những tia xiên khoai màu hồng chiếu dài lên thảm cỏ xanh um. Kiên dừng xe
dưới một cây bồ đề.
- Nắng chia nửa bãi chiều rồi... vườn
hoang trinh nữ khép đôi lá rầu... Đấy, thơ thế mới là thơ chứ, - Sinh mỉm cười,
mắt nheo nheo - vậy mà mình đây đã từng ôm mộng thành nhà thơ cơ đấy Đi lính ấy
mà, mình định bụng sẽ trở thành Lê Anh Xuân, tạc vào thế kỷ. Đấy ước mơ thế đấy
Còn hồi trước nữa thì thú thực mình đã làm khối thơ tình tặng Phương, chỉ hãi cậu
biết cậu đấm cho thì khốn."
Rồi cả hai cùng im lặng. Chẳng phải
nói gì nữa. Hai người bạn thân thời niên thiếu, sau những năm dài trận mạc giờ
đây trong hai cảnh ngộ ngồi bên nhau, thầm lặng nói với nhau bằng nỗi lòng,
cùng nhau trầm tư nhớ lại những chuyện xa lắc, những ngày xưa kia.
Kiên đưa Sinh về giường rồi cáo từ.
Anh ôm lấy vai Sinh, hôn lên đôi má gầy hóp, hạnh như đồng của bạn.
- Thỉnh thoảng vào với mình nhé, Kiên
ơi... thỉnh thoảng nhé - Thương thân, bi thiết nín mãi trong lòng, không còn gượng
nổi nữa, Sinh bật nức lên, nghẹn ngào - Lắm lúc nghĩ cay cực khôn cùng. Ước gì
có cách nào tự chết ngay cho chóng cuộc đời. Thân phận những thằng bị thương
như mình bị chiến tranh đoạt mất tự do
có khác nào thân phận nô lệ...
Kiên đưa tay bưng mặt, và không chịu
đựng nổi anh bật đứng dậy bước vội ra khỏi căn buồng nửa nhà mồ, không kịp chào
cả bà chị dâu của Sinh. Trở lên phòng không cởi áo bông, Kiên nằm ngửa xuống
giường, gác đôi giày đen lấm bùn lên chiếu. Vòng tay dưới gáy anh trừng trừng
nhìn lên trần nhà nẻ rạn, vàng.
💥Mua sách Nỗi buồn chiến tranh tại đây 💥
Lặng lẽ nước mắt ứa ra, nóng rực và
đau nhói. Đi đâu bây giờ? Làm gì bây giờ?
Anh bật ho như thể buột rên lên nỗi
day dứt giằn vặt, khó hiểu, ám mãi trong lòng. Kể ra thì sau chiến tranh anh đã
từng có được cảm giác hạnh phúc, chí ít thì cũng là ấn tượng hạnh phúc của ngày
trở về. Hơn ba ngày đêm rong ruổi dọc đường sắt Xuyên Việt vào cuối mùa thu năm
76 ấy có thể ví như là chút niềm vui vớt vát cuối cùng của đời bộ đội. Tuy
nhiên nhớ lại cứ thấy đau đau trong lòng thế nào ấy Trên tàu Thống Nhất chuyến ấy
toàn là thương phế binh và lính về vườn.
Ba lô ken dày trên giá, võng chăng dọc
ngang lòng toa biến đoàn tàu thành một bãi khách.
Thoạt đầu, tâm trạng chung phải nói
là khá chua chát. Không kèn, không
trống, không khúc khải hoàn thì đã
đành rồi nhưng đến một chút đối xử có trước có sau người ta cũng chẳng buồn
giành cho bộ đội. Cảnh chợ chiều nhốn nháo, nháo nhào không khác gì lại một thứ
tùy nghi di tản. Đã thế lại còn kiểm tra lên, kiểm tra xuống, lục lọi săm soi từng
cái túi cóc ba lô tuồng như người ta cho rằng một núi của cải ở miền Nam sau giải
phóng bị hư hao thất thoát, bị xâu xé, tranh đoạt, bị hốt vơ cào xúc cho đến sạch
sành sanh là bởi anh bộ đội chứ không phải bởi bọn người nào khác...
Tại các ga mà đoàn tàu dừng bánh các
loa phóng thanh oang oang trút vào tai đám lính đui què mẻ sứt mắt trắng môi
thâm này hàng lô xích xông những lời dạy bảo trớ trêu nhất đời nào chống cầu
an, chống đạn bọc lường, chống thói đam mê các tàn tích của xã hội phồn vinh giả
tạo và nào là cần đặc biệt chống tư tưởng công thần?
Nhưng anh em công thần biết an ủi
nhau, biết biến tất cả những sự khó chịu thành chuyện đùa, thành lời giễu cợt,
thành chuyện tiếu lâm để cười. Và khi hai bên đường sắt bắt đầu những quang cảnh
thân yêu của đồng bằng sông Hồng thì ai ai nấy như bơi trong niềm hạnh phúc.
Bao nhiêu ước mơ đã đào sâu chôn chặt giờ đây thỏa sức cất lên thành lời. Mê mải
trong lòng mỗi người những dự định tươi hồng phi lý về cuộc sống bắt đầu từ đây
của nền hòa bình vĩnh viễn. Ngày cuối cùng trên tàu, Kiên làm thân được với Hiền,
chiến sĩ của mặt trận khu 9 đi B từ năm 66, quê Nam Định, gái chợ Rồng nhưng giọng
nói đã ăn đậm chất Hà Tiên.
Đêm, Kiên bế Hiền sang bên võng mình.
Và suốt đêm, trong nhịp tàu dồn dập lắc lư, mặc kệ rằng xung quanh lính tráng
đùa cợt trêu chọc, hai người thoải mái ôm xiết lấy nhau mà ngủ, cùng nhau nói
mê, thỉnh thoảng thức dậy càng ôm chặt nhau, thỏa sức hôn hít nhau, sống gấp
lên với nhau những cây số cuối cùng còn vương lại của tuổi thanh xuân chiến
hào. Khi tàu dừng ở Nam Định, Kiên dìu Hiền xuống sân ga. Anh chực bỏ chuyến
tàu để đưa Hiền về nhà. Hiền cười gạt đi:
Thôi mà. Cho thành tro mọi chuyện đi.
Vương vấn làm gì. Mà anh cũng cần phải về gấp xem cửa nhà, xem còn gì không cho
ngày mai sống tiếp chứ. Với xem xem liệu có còn ai đó chờ đợi mình không? Biết
đâu đấy - Nhưng, sẽ gặp lại nhau chứ?
- Đời hòa bình biết nông sâu thế nào
mà lường, anh. Có phải là còn chiến tranh, còn trong bộ đội đâu mà bảo rằng sẽ
một điều gì. Thôi, mai rày có nhớ nhau thì cứ cậy vào run rủi...
Một mình Hiền quay đi, khó nhọc lết tới
cửa ga. Hai vai cô tỳ lên hai chiếc nạng gỗ. Thân hình mềm mại hơi lệch
nghiêng, phướn lên, cô đu người tới trước từng đoạn, bả vai nhô cao. Gần khuất
sau cổng kiểm soát đông nghịt người, Hiền chợt ngoái đầu lại chăm chú nhìn Kiên
lần cuối. Đôi mắt đen trong sáng nhưng sâu thẳm nỗi buồn và tâm trạng tan hoang
bi đát. Cô loạng choạng, lúng túng cất một bàn tay lên vẫy vẫy Kiên, gượng một
nụ cười, rồi quả quyết quay đi biến mất.
Từ đấy về tới Hà Nội đầu tàu như
không ngừng hân hoan thúc lên hồi còi reo vui lanh lảnh: Hạnh phúc, hạnh
phúc... Và các đầu dập nối toa rầm rầm nhắc lại:
Hạnh phúc, hạnh phúc... Càng về tới gần
Hà Nội đầu óc Kiên càng thêm choáng váng, đê mê một cơn sốt nhẹ nhàng, tim đập
rộn lên bởi bao dự cảm mơ hồ, dịu ngọt và khó tin. Xúc cảm bình yên làm mắt anh
mờ lệ. Khi từ ga Hàng Cỏ về đến nhà thì trời đã tối khuya.
Phố phường im ắng. Anh bước vào trong
sân. Ngôi nhà tối sẫm. Các gia đình có lẽ đã ngủ cả nhưng cánh cửa đầu cầu
thang không hiểu hôm ấy sao không cài then như để hé đấy chờ anh về. Đúng là
không ai chờ đợi anh, không ai cả, Kiên biết... nhưng biết đâu đấy! Kiên bước
lên cầu thang lòng thắt lại trong linh cảm về một sự bất ngờ đang lặng nín đón
rình anh. Dưới ánh sáng của ngọn đèn vàng vọt, hành lang mờ tối cánh cửa căn
phòng của cha con anh vẫn nguyên màu nâu thùa xưa, vẫn tấm biển đồng nhỏ khắc
tên cha anh. Mờ mịt, chao đảo, Kiên đứng cơ hồ không vững, hai tay mỗi lúc một
run. Hạnh phúc và nước mắt thầm lặng dào tuôn.
Chợt có tiếng cửa kẹt mở. Từ căn hộ
giáp phòng anh một người phụ nữ thân hình dong dỏng, bận chiếc áo ngủ sáng màu
bước nhẹ ra hành lang. Nàng nhìn anh. Một tiếng kêu câm lặng trong ánh mắt.
Kiên rùng mình. Toàn thể cảm giác của anh như thể bị xô nghiêng đi. Năm tháng rất
dài lâu của đời người vụt thu lại trong chớp mắt này Nàng bứt khỏi ngưỡng cửa,
ngả người, bước lướt tới. Kiên hơi cúi xuống. Rất nhanh, mềm mại, tuyệt trần,
hai cánh tay nàng choàng quấn lấy cổ anh.
- Kiên!
- Phương... Em!
Mười năm trời ấy một cái hôn dài. Cái
hôn bất tuyệt thấu vào tim, cái hôn mà mãi mãi mỗi người trong họ còn phải nhớ
bởi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ cả hai còn được hưởng một cái gì tột đỉnh
cuộc đời đến như thế nữa. Nàng khẽ cọ má vào môi anh, rồi lặng lẽ áp mặt vào ngực
áo bộ đội thô ráp của anh.
- Phương ơi... Vậy mà, - Kiên thì
thào - Mười năm qua anh nghĩ em không còn sống.
- Vậy ra... chúng mình đã thành luồn
ma trong nhau... bởi e ai cũng nghĩ thế...
Nhưng, thôi thế là từ nay không bao
giờ chúng mình rời xa nhau nữa, phải không em?
Tuy nhiên không hiểu sao ngay lúc đó,
anh đã cảm thấy những xung động rối ren giữa niềm hạnh phúc vô bờ lẫn cùng sự
hoang mang bấn loạn từ tấm thân yêu kiều trong vòng tay của mình. Anh cắn răng
lại, anh nghe dường như có những bước chân rón rén nào đó và có một ai đó đang
chứng kiến anh với Phương gặp gỡ nhau. Phương mở cúc áo. Chiếc chìa khóa của
phòng anh đính vào sợi dây chuyền, lấp lánh như một cây thập ác nhỏ trên ngực
nàng để hở. Mắt mờ đi, Kiên mở khóa và đẩy cửa ra. Bầu không khí trong căn
phòng đã nhiều năm trời hầu như thường xuyên khép kín ùa ra, bao bọc lấy anh
như làn hơi thở cuối cùng của cuộc đời yêu dấu xa xưa.
Đột nhiên, Kiên chộp lấy khuỷu tay
Phương, như thể chực dùng sức du nàng vào trong cửa. Anh đã thoáng thấy một
bóng người đứng ở bên trong cánh cửa phòng Phương hé mở. Gương mặt Phương trắng
bệch, cái nhìn như lả đi. Nàng bước theo anh. Nhưng chỉ một bước thôi, một giây
thôi, Kiên cảm thấy Phương đang trì ngón phân xuống ngưỡng cửa. Anh buông nàng
ra. Cúi xuống, anh nhặt cái ba lô ở ngạch cửa rồi một mình bước vào phòng. Khép
cửa lại.
💥Mua sách Nỗi buồn chiến tranh tại đây 💥
Tác giả: Bảo Ninh (tên thật Hoàng Ấu Phương), là một cựu chiến binh, nhập ngũ năm 17 tuổi (1969) và chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên. Sau chiến tranh, ông tham gia công tác quy tập hài cốt liệt sĩ, một công việc đầy ám ảnh.
Thời Tác phẩm được viết vào năm 1987, trong bối cảnh văn học Việt Nam bước vào giai đoạn Đổi mới, khi các nhà văn bắt đầu có xu hướng nhìn nhận chiến tranh một cách chân thực và đa chiều hơn, thoát khỏi lối mòn lý tưởng hóa.
Ban đầu có tên là "Thân phận của tình yêu".Được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1990 với tên "Nỗi buồn chiến tranh".
Tác phẩm đã đoạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 (nhưng sau đó giải thưởng bị thu hồi do phản đối). Tác phẩm từng bị cấm phát hành trong nước (khoảng 1993–2005) nhưng vẫn lưu hành không chính thức, sau đó được phép tái bản trở lại.
🗣️ Các ý kiến xung quanh
"Nỗi buồn chiến tranh" là một trong những tác phẩm gây tranh cãi lớn nhất trong văn học Việt Nam đương đại, đồng thời lại được quốc tế đón nhận nồng nhiệt.
1. Ý kiến ủng hộ và đánh giá cao (Trong nước và Quốc tế)
Tính nhân bản và phản chiến sâu sắc: Tác phẩm không tập trung vào chiến công, anh hùng ca, mà đi sâu vào mặt trái, sự hủy diệt của chiến tranh đối với tâm hồn, nhân tính của con người, bất kể phe thắng hay thua.
Vinh danh Quốc tế: Được dịch ra nhiều thứ tiếng và được giới phê bình quốc tế xem là "cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam" và "thành tựu lớn nhất của văn học Đổi mới".
2. Ý kiến phản đối và tranh cãi
Phê phán cách nhìn phi anh hùng: Một bộ phận công chúng và phê bình cho rằng tác phẩm đã "hạ thấp tính anh hùng" của quân đội và "nhen nhóm sự lật sử" thông qua việc tập trung quá nhiều vào nỗi buồn, sự tàn khốc, và sự đổ vỡ (như mối tình Kiên - Phương).
"Phủ nhận tính chính nghĩa": Có ý kiến cực đoan suy diễn rằng việc viết về nỗi buồn và mất mát là "phản chiến" và phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, mặc dù các nhà văn, nhà phê bình khác khẳng định tác phẩm chỉ là cái nhìn trung thực, nhân văn từ góc độ người lính, không phủ nhận chiến công.

0 comments Blogger 0 Facebook
Post a Comment