Chao ôi! Như vậy đấy: Hoà bình, hạnh phúc, ánh huy hoàng của chiến thắng, ấn tượng êm dịu của ngày trở về niềm tin đầy đắc thắng về tương lai... Tội nghiệp thằng bé. Mỗi lần nhớ lại đêm đầu tiên của cuộc đời mới sau chiến tranh lòng dạ anh đau nhói, chua xót, không thể rên lên.
Kiên vùng bật dậy, không ngừng đi đi
lại lại trong phòng. Cuộc chiến tranh thần thánh rốt cuộc đã bù đắp những mất
mát anh đã phải chịu bằng một thứ đời sống như ngày hôm nay đây Sau cuộc chiến
tranh ấy chẳng còn gì nữa cả trong đời anh. Chỉ còn những mộng mị hảo huyền.
Sau cuộc chiến tranh ấy anh dường như
chẳng còn ở trong một "kênh" với mọi người. Càng ngày Kiên càng có cảm
giác rằng không phải mình đang sống mà là đang bị mắc kẹt lại trên cõi đời này Thẫn
thờ, anh ngồi xuống ghế. Bao nhiêu hình ảnh dồn dập kế tiếp nhau. Không. Cứ nói
rằng số phận không cho một lời mách bảo nào sau khi chiến tranh kết thúc, song,
cái đêm đầu tiên ấy chẳng là lời mách bảo hay sao? Nhưng cả anh và cả Phương đều
đã cưỡng lại. Để làm gì cơ chứ?
Ngay đêm hôm ấy, Phương sang lại với
anh. Người đàn ông mà nàng đang chung sống và đã định với nàng một lễ cưới bỏ
ra đi lập tức. Mù quáng biết chừng nào, anh và Phương?
Dù đã dầm mình trong rượu, dù đã hàng
trăm lần tự cầu xin lòng mình hãy lặng yên đi cho, thì trong tâm trí anh vẫn
không ngừng nhói đau những hồi tưởng tan nát về thời gian sống cùng nhau sau
chiến tranh của anh và Phương.
Mảnh đời còn lại sau mười năm bị lửa
đạn của chiến tranh vằm xé lại bị móng vuốt của tình yêu xéo nát. Cuộc chung sống
làm đổ bể tâm hồn nhau và cuộc đời nhau mới chấm dứt cách đây không lâu. Trong
một cuộc xô xát ở quán rượu Kiên đã đánh trọng thương một người tình cũ của
Phương. Từ đồn công an, nơi mà người ta tưởng anh là thằng điên, Kiên mò về gặp
Phương. Anh chẳng nói được gì hết, chỉ trào nước mắt. Ký ức chẳng buông tha.
Chúng mình đã lầm tưởng rằng có thể vượt qua được một hạt sạn.
- Phương nói với anh khi bỏ ra đi -
Không phải là hạt sạn mà là một quả núi.
Lẽ ra lần ấy em nên chết đi... Như thế
thì chí ít em vẫn là cái gì tốt đẹp trong trắng đối với anh. Còn bây giờ em sống,
sống cạnh anh nhưng em là vực thẳm xấu xa và đen tối của đời anh. Phải không
Kiên?
Khi Phương bỏ đi, Kiên không cản. Anh
cũng nghĩ là nên như thế. Song có thái độ cứng rắn trong chốc lát là chuyện dễ,
duy trì được thái độ đó khó hơn nhiều. Một tuần, hai tuần, rồi hàng tháng đã
trôi qua. Anh không thể đến nổi trường đại học. Không biết ngồi thế nào, nằm thế
nào, nhìn về đâu, đi về đâu. Một khi có tiếng giầy cao gót lên cầu thang, tim
anh ngừng đập. Giờ này qua giờ khác anh đứng bên cửa sổ mắt nhìn đăm đăm xuống
đường. Đi dọc phố chốc chốc anh ngoái đầu nhìn lại đằng sau với nỗi hồi hộp lố
bịch nhất đời. Và đôi khi giữa đêm, lòng tràn tuyệt vọng anh nấc lên, nước mắt
giàn giụa, phải thúc mặt vào gối cho đến kỳ ngạt thở...
Anh biết chỉ có biện pháp duy nhất để
thoát khỏi tình trạng yếm thế thê thảm này là Phương trở về, là anh lại được
nhìn thấy nàng, để lại cùng nhau lặp lại nỗi thống khổ...
Trong phòng ẩm ướt, dường như càng
lúc càng lạnh hơn. Gió cào trên ô cửa.
Trên bàn, một ấm trà đã pha mà chẳng
uống nguội lạnh, mấy cuốn sách, một tập giấy, cây bút, lọ mực, cái gạt tàn và
bình hoa với mấy bông hồng đã nguội ngắt hương thơm. Và, chính một đêm như thế
vào mùa xuân năm ấy anh đã cảm nhận được thiên mệnh của đời mình: sống ngược trở
lại, lần tìm trở lại con đường của mối tình xưa, chiến đấu lại cuộc chiến đấu.
Tất nhiên anh chưa nghĩ ngay rằng đấy là một thiên mệnh, anh nghĩ đấy là một lối
thoát.
Kể lại, viết lại làm sống lại những
linh hồn đã mai một, những tình yêu đã phai tàn, bừng sáng lại những giấc mộng
xưa. Đó là con đường cứu rỗi của anh.
Kiên nghĩ. Nhưng cho đến tận bây giờ
và có thể là mãi mãi Kiên cũng không thể cắt nghĩa được vì sao mà vào cái đêm lạnh
giá ấy, đứng trước cửa sổ nhìn màn mưa mỏng đang chầm chậm tràn ngang qua bầu
không khí xanh xám run rẩy, uốn ngả theo chiều gió đông bắc, lòng đăm đắm nhớ tới
Phương, anh lại chợt nhìn thấy mùa mưa Cánh Bắc, nhìn thấy Ngọc Bơ Rẫy, truông
Gọi Hồn. Vì sao? Lại gương mặt của từng anh em trong trung đội hiện lên. Và
phép mầu nào ngay sau đấy đã đẩy lùi thời gian về xa hơn, dựng lại trước mắt
anh trận đánh ghê rợn đã xóa sổ tiểu đoàn 27 của anh?
Không khí trong căn phòng này khi đấy
thật kỳ lạ, như thể bị hút vào trường hấp dẫn của quá khứ: cũng rung lên, xô giật,
đập thình thình vì sóng xung kích của hàng trăm trái đạn pháo dội cấp tập xuống
lòng truông Gọi Hồn. Và tường vách căn phòng rầm rầm rung lên trong tiếng động
cơ máy bay bổ nhào. Kiên giật mình bật lùi khỏi cửa sổ. Hồn phách xiêu lạc, ý
thức mờ mịt, lú lẫn, mê mẩn Kiên đi đi lại lại, ký ức lóe chớp. Loạng choạng ngồi
xuống bên bàn, mộ t cách máy móc anh cầm lấy bút, và thay vì viết thư, anh viết
một cái gì hoàn toàn khác. Suốt đêm ấy, đến sáng, giữa mớ đồ đạc và bàn ghế tồi
tàn, giữa bốn bức tường tróc lở, những sách những báo chồng đống trên sàn nhà bụi
bặm, nứt nẻ, những vỏ chai lăn lóc, cái tủ đầy gián, chiếc giường xiên vẹo bừa
bãi chăn màn xơ xác anh đã viết một mạch trọn vẹn với thần hứng không bao giờ
còn có lại - thiên truyện đầu tiên trong đời, làm sống dậy một cách đặc biệt
tàn nhẫn trận tử chiến truông Gọi Hồn với những diễn biến nặng nề của nó và số
phận bi thảm của tiểu đoàn anh.
Tay mỏi tê, run lên, tim như rách dần,
cả hai buồng phổi nghẹt khói thuốc, miệng khô đắng, cổ tắc lại nấc, anh cắm đầu
viết. Quanh anh, tiếng kêu, tiếng la hét đau đớn, tiếng đạn ríu rít sát mang
tai, tiếng gầm giật dội của những chùm rốc két dọt từ trực thăng xuống. Các
nhân vật của anh cứ nối nhau gục ngã. Và cho tới lúc nhân vật chính, một trong
những người trụ lại đoạn hậu cho cuộc rút lui đã hóa thành một đống giẻ nát nhừ
vắt mình trên bờ công sự mà chết thì ngày xuân trên thành phố đã vào đến góc tối
nhất trong phòng. Tác giả đã cạn sức. Chếnh choáng, anh lần ra khỏi nhà, lê bước
trên vỉa hè, xiên đảo, mê tơi như thể một cô hồn lang thang đi phơi nắng. Khối
cảm giác nóng bỏng căng nhức hồi đêm dẫu dịu dần nhưng tâm trạng Kiên hình như
không thể bình quân lại được nữa. Anh có cảm giác giống như khi bị thương mất
nhiều máu, ngất đi, vừa hồi tỉnh lại ngay trên bãi chiến trường.
Thế giới trước mắt anh cơ hồ đã đổi
khác. Chỉ sau một đêm thôi nhưng là một đêm kỳ ảo chóng vánh dài dặc mà giờ đây
đường Nguyễn Du sắc nét và trang nhã của anh, hồ Thuyền Quang trong lành êm ả
và thân thuộc từ tấm bé không còn hẳn như ngày hôm qua nữa. Cả tâm hồn của anh,
anh cũng không còn nhận ra nổi. Và bầu trời buổi sớm và những cụm mây lững thững
trôi từ miền đông bắc quang đều như nhuộm một sắc màu khác biệt. Những nóc nhà
vốn xám xỉn, lóng lánh trong màn nắng mai nom như vừa được vớt lên từ dưới nước.
Suốt cả ngày chủ nhật hôm ấy, như thành người ngây, Kiên lang thang trong phố.
Một niềm vui buồn thảm tựa như một buổi bình minh pha trộn ánh hoàng hôn soi
chiếu những suy nghĩ của Kiên.
Toàn bộ cuộc sống bấy lâu nay được rọi
sáng trong luồng tâm tưởng ngược chiều thời gian. Những mối bận tâm, những niềm
đau khổ, những xót xa cay đắng trong lòng những năm gần đây đã trở nên tầm thường,
nhợt nhạt và lúc đó Kiên nghĩ, chúng chẳng còn nghĩa lý gì đối với mình. Kiên
tin rằng anh đã phục sinh, nhưng là một sự phục sinh lùi về sâu xa. Sẽ mỗi ngày
một lùi xa hơn, sẽ không ngừng phục sinh trong chuỗi dài tái hiện. Có vẻ như
anh đã tìm ra cuộc đời mới của mình: đấy chính là cuộc đời đã qua, là tuổi trẻ
đã mất đi trong nỗi đau buồn chiến tranh.
Buổi chiều vào công viên, anh đi dọc
theo những lối sỏi hai bên um tùm cỏ và hoa, bước qua những bụi cây đọng nước
tìm tới một ghế đá bỏ trống gần nơi trai gái đang tình tự, và ngồi im cả giờ
nghe gió thầm thổi qua hồ. Con người nội tâm trong anh cô quạnh, âu sầu không hề
cảm thấy gió lạnh chiều tà, lặng lẽ đưa mắt nhìn vượt khỏi tầm mắt, vươn tới
cõi xa xăm bên ngoài biên giới của tư duy, đạt
đến cõi hòa đồng người sống và người chết, hạnh phúc và khổ đau, hồi ức
và ước mơ. Mênh mang trời nước. Mênh mang hương sặc mùa xuân tươi sáng đượm sầu
xao xuyến truyền lan theo sóng hồ. Và, trên vùng không gian tinh thần ấy Kiên thấy
hiện lên rõ một cách bí ẩn, khó giải thích một đoạn đời, một phong cảnh, một hình
ảnh, một gương mặt mà đã từ lâu rồi anh quên lãng.
Và sau đó lại những đoạn đời khác, những
kỷ niệm khác, lần lượt kế tiếp nhau, âm thầm chậm rãi duyệt lại quá khứ... ký ức
về một trưa mùa khô rực rỡ nắng, hoa nở đầy trong những khoảnh rừng thưa... Ký ức
một ngày mưa gian truân bên bờ Sa Thầy vào rừng hái măng đào củ... những bờ suối,
bãi lau, buôn nhỏ hoang tàn... những gương mặt đàn bà mến thương xa lạ gợi niềm
nhớ nhung âu yếm... mềm đau của mối tình... Ký ức xa vời, trập trùng và lặng lẽ,
khắc nghiệt và thẳm sâu như rừng như núi trong lòng anh chiều ấy, một chiều
xuân lạnh lẽo sáng trong bên lề trống không của trời nước một mầu làm cho tâm hồn
từ đấy không còn có thể dừng mắt ở điểm
nào nữa trên cõi không cùng của quá khứ.
--- Hết chương II ---
💥Mua sách Nỗi buồn chiến tranh tại đây 💥
Còn nữa, xem tiếp tại đây
Tác giả: Bảo Ninh (tên thật Hoàng Ấu Phương), là một cựu chiến binh, nhập ngũ năm 17 tuổi (1969) và chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên. Sau chiến tranh, ông tham gia công tác quy tập hài cốt liệt sĩ, một công việc đầy ám ảnh.
Thời Tác phẩm được viết vào năm 1987, trong bối cảnh văn học Việt Nam bước vào giai đoạn Đổi mới, khi các nhà văn bắt đầu có xu hướng nhìn nhận chiến tranh một cách chân thực và đa chiều hơn, thoát khỏi lối mòn lý tưởng hóa.
Ban đầu có tên là "Thân phận của tình yêu".Được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1990 với tên "Nỗi buồn chiến tranh".
Tác phẩm đã đoạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 (nhưng sau đó giải thưởng bị thu hồi do phản đối). Tác phẩm từng bị cấm phát hành trong nước (khoảng 1993–2005) nhưng vẫn lưu hành không chính thức, sau đó được phép tái bản trở lại.
🗣️ Các ý kiến xung quanh
"Nỗi buồn chiến tranh" là một trong những tác phẩm gây tranh cãi lớn nhất trong văn học Việt Nam đương đại, đồng thời lại được quốc tế đón nhận nồng nhiệt.
1. Ý kiến ủng hộ và đánh giá cao (Trong nước và Quốc tế)
Tính nhân bản và phản chiến sâu sắc: Tác phẩm không tập trung vào chiến công, anh hùng ca, mà đi sâu vào mặt trái, sự hủy diệt của chiến tranh đối với tâm hồn, nhân tính của con người, bất kể phe thắng hay thua.
Vinh danh Quốc tế: Được dịch ra nhiều thứ tiếng và được giới phê bình quốc tế xem là "cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam" và "thành tựu lớn nhất của văn học Đổi mới".
2. Ý kiến phản đối và tranh cãi
Phê phán cách nhìn phi anh hùng: Một bộ phận công chúng và phê bình cho rằng tác phẩm đã "hạ thấp tính anh hùng" của quân đội và "nhen nhóm sự lật sử" thông qua việc tập trung quá nhiều vào nỗi buồn, sự tàn khốc, và sự đổ vỡ (như mối tình Kiên - Phương).
"Phủ nhận tính chính nghĩa": Có ý kiến cực đoan suy diễn rằng việc viết về nỗi buồn và mất mát là "phản chiến" và phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, mặc dù các nhà văn, nhà phê bình khác khẳng định tác phẩm chỉ là cái nhìn trung thực, nhân văn từ góc độ người lính, không phủ nhận chiến công.

0 comments Blogger 0 Facebook
Post a Comment