Đấy, cần phải viết về chiến tranh trong niềm
thôi thúc ấy, viết sao cho xao xuyến nổi lòng dạ, xúc động nổi trái tim con người
như thể viết về tình yêu, về nỗi buồn, sao cho có thể truyền được vào cuộc sững
đương thời luồng điện của những cảm xúc chỉ có thể diễn đạt bằng quá khứ của
quá khứ, Kiên nghĩ. Mặc dù cố nhiên chiến tranh không hề là như vậy Chiến
tranh...
💥Mua sách Nỗi buồn chiến tranh tại đây 💥
Nhưng vì sao anh lại chọn đề tài chiến
tranh và vì sao nhất thiết phải là đề tài ấy? Trong chiến tranh, cuộc sống của
anh, của bao người khác thật kinh khủng, thậm chí khó có thể bảo đấy là cuộc sống
nói gì đến sự tìm kiếm những sắc thái nghệ thuật trong cuộc sống đó. Và chính
anh chứ chẳng phải ai khác cho đến tận ngày hôm nay vẫn không tài nào bước vào
rạp chiếu bóng để xem những bộ phim trong đó người ta nhè đầu nhau mà khạc đạn.
Không những thế văn chương về chiến tranh, tất nhiên là văn chương của người
khác, anh hết sức tránh đọc. Thú thật là anh cực kỳ khiếp hãi những thiên truyện
ấy Thế nhưng bản thân anh thì lại thế, một mực sống chết viết mãi không chán những
súng nổ bom rơi, những mùa khô mùa mưa, rồi quân địch, quân ta. Anh không thể
viết khác, mai sau ví dụ có viết khác đi thì cũng là bởi vì thâm tâm luôn muốn
viết về chiến tranh sao cho khác trước.
Đôi khi cũng toan một hướng mới nào
đó nhưng ngòi bút lại chẳng tuân theo.
Như là khi bắt đẩu cuốn tiểu thuyết đầu
tay này Kiên đã dự định một cốt chuyện hậu chiến và vì thế chương thứ nhất anh
viết về những người đi thu hài cốt tử sĩ, những người lính sắp giải ngũ để trở
về với đời thường. Song một cách không thể cưỡng lại, các trang bản thảo dựng dậy
hết cái chết này qua cái chết khác, dần dần đi sâu mãi vào những cánh rừng
nguyên thủy của chiến tranh, lặng lẽ nhóm lên mãi cái lò lửa tàn khốc ấy của ký
ức. Vậy mà thực ra anh có thể viết bao nhiêu chuyện có lẽ chẳng dính dấp gì tới
trận mạc, bởi vì cũng như mọi người ngày nay anh nhìn cuộc đời đâu phải chỉ từ
mặt cửa duy nhất nào đó.
Chẳng hạn về thời thơ ấu, thời thơ ấu
vô cùng hạnh phúc và vô cùng buồn đau trước chiến tranh còn rất nhiều kỷ niệm
chưa phai nhòa, anh nghĩ là mình hoàn toàn có thể viết với niềm tuyệt hứng
"... Tôi sinh ra và lớn lên... cha tôi mẹ tôi lúc sinh thời...!, đại khái
thế. Mà tại sao không viết về cuộc đời của cha và cả về thế hệ của Người nữa, một
thế hệ vĩ đại và bi thảm, đầy những hoài bão và đầy những không tưởng, mang nặng
những phẩm chất và những tình cảm cao quý mà ngày nay đã bị thế hệ của anh làm
cho vĩnh viễn mai một. Cứ mỗi lần nghĩ lại tuổi thơ, nhớ đến cha bao giờ Kiên
cũng cảm thấy ân hận, dường như anh đã yêu thương, tôn kính cha chưa đủ mức một
người con, anh đã biết quá ít, hầu như không biết gì cả những năm tháng cuộc đời
cha.
Anh đã chẳng nhớ gì mấy nữa về tấn bi
kịch gia đình, không biết vì sao cha mẹ lại chia tay, không biết rằng cha mẹ đã
đau khổ như thế nào. Về mẹ thì anh càng ít hơn... Và lạ lùng là anh lại rất nhớ
người chồng sau của mẹ, một nhà thơ tiền chiến đã ẩn danh và đã về già Kiên đã
một lần và chỉ một lần duy nhất đến thăm ông ở ngôi nhà nhỏ gần Chém có cửa sổ
nhìn ra đê sông Hồng. Mùa đông ấy anh vừa mười bảy tuổi, cha thì mới qua đời,
còn mẹ thì mất từ mấy năm trước đấy hơn năm năm rồi.
Trước ngày nhập ngũ, Kiên đến để từ
biệt dượng. ấn tượng thật khó quên.
Ngôi nhà xám xịt, cũ kỹ. Những ngọn
gió lạnh lẽo vô định làm nghiêng ngả ngọn phi lao nhô lên sau mái nhà nằm lọt
giữa khu vườn thê lương trơ trụi chiều đông.
Cảnh sinh hoạt trong nhà nghèo nàn lộ
liễu. Bàn thờ bụi bặm, tấm hình mẹ lồng trong khung kính rạn nứt. Chiếc giường ọp
ẹp. Bàn làm việc bừa bộn sách vở, ly chén. Cuộc sống độc thân rời rã, đắp đổi
qua ngày của dượng làm anh mủi lòng.
Nhưng bản thân dượng cố giữ một phong
độ trái ngược với tình cảnh. Tóc bạc trắng, lưng hơi còng, rõ ràng là đang rộc
đi vì một chứng bệnh nào đó, tay run run, mắt mờ, trang phục tàn cũ nhưng không
luộm thuộm và ông cư xử với anh một cách thân mật, hào hứng mà lịch thiệp.
Ông pha trà ngon mời anh, dưa thuốc
cho anh hút, nhìn anh với vẻ buồn buồn, và nói với anh bằng giọng hết sức dịu
dàng:
- Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh
trận? Không phải là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ, ngăn chí
con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ của một con
người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một
cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ... Không phải là ta khuyên con trọng
mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con
người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy Với lại, con ạ, mẹ con, cha con
và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và hãy trở
về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con
kia có ai sống hộ cho con được bây giờ?
💥Mua sách Nỗi buồn chiến tranh tại đây 💥
Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng
Kiên cảm thấy tin cậy những lời lẽ của dượng. Anh tự thấy gần gũi với suy nghĩ
của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu.
Anh cảm nhận ở ông một trí tuệ sâu sắc,
đa dạng với một tâm hồn lãng mạn và nhiệt thành theo lối tình cảm chủ nghĩa thời
xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy cảm nhưng dường như rất ngây thơ, thiếu thiết
thực và vô bổ, thậm chí lầm lạc.
Và bất chợt anh hiểu được rằng vì sao
mẹ đã từ bỏ cha con anh để đến với người đàn ông tâm tình yếu đuối này Suốt chiều
anh ngồi bên ông trong căn phòng mà trước đây mẹ đã từng sống và đã qua đời.
Và buổi chiều mùa đông ấy đã trở
thành hầu như kỷ niệm duy nhất của anh về người mẹ mặc dù trong kỷ niệm đó
không hề thoáng lên hình bóng của bà. Còn dượng, sau khi đọc cho anh nghe mấy
câu thơ về tình yêu ông đã sáng tác từ thời trai trẻ, liền lấy đàn ghi ta treo
trên tường xuống rồi bắt đầu hát bằng giọng trầm một bài hát của Văn Cao mà ông
bảo ngày xưa mẹ anh hằng ưa thích. Bài hát chầm chậm, buồn buồn gợi nhớ những
người thân yêu đã khuất, tiên cảm những ngày mai bất hạnh song lại như khuyên
nhủ đừng nên vô vọng, đừng mãi mãi sầu thương, đừng nhiều lời than tiếc vì như
thế chẳng ích gì mà hãy sống, hãy sống... Vào bộ đội, khi còn sống ở Nhã Nam,
Kiên đã viết thư cho dượng, nhưng không nhận được hồi âm.
Mười năm sau sống trở về anh đi tìm
nhưng chỉ được biết rằng dượng đã mất từ lâu. Còn ngôi nhà nọ thì không ai nhớ
đã bị san đi từ bao giờ. Một con người như thế đấy và một câu chuyện như thế và
còn bao nhiêu chuyện khác, bao nhiêu người khác nữa trong đời anh. Những người
thân quen và những người xa lạ, đã chết hoặc còn sống, những chuyện cầm chắc là
có thật lẫn những chuyện chẳng rõ thực hư.
Có lần, một người đàn ông lạ mặt và
không chịu xưng tên đã đến tìm Kiên ở tòa soạn đề nghị được thông qua anh hiến
cho văn học nước nhà mối tình của hai vợ chồng ông ta, "Chỉ cần đồng chí
hư cấu một cái tên cho tôi và một cái tên cho bà nó nhà tôi, còn xin là cứ giữ
nguyên tất cả. Vâng, xúc động và bi thảm lắm ạ", ông ta bảo thế. Nhạt nhẽo,
vớ vẩn và mất thì giờ, có lẽ thế thật, song bản thân lòng tự tin của ông ta, nhất
là cái ước muốn có món quà phi thường để tặng bà vợ đau yếu nhân kỷ mềm ba mươi
năm lễ thành hôn chẳng phải một chuyện tuyệt vời hay sao? Nói chung bất kỳ ở
đâu, bất kỳ lúc nào cũng có thể cảm nhận được một điều gì đấy để viết một cái
gì đấy về bất kỳ ai đấy chẳng phải là như thế đó sao? Bởi vì, từ cuộc sững phức
tạp ẩn đằng sau vẻ bình thường dung dị, định hình cho được một nét dù là cực nhỏ
nhưng thực sự đáng ghi lại, đấy quả là một trời những khả năng sáng tạo mở về
muôn hướng. Chẳng hạn, Kiên nghĩ, tại sao lại không viết tiểu thuyết về cái cộng
đồng kỳ thú những người hàng xóm ở tầng trên, tầng dưới và ở chung tầng với anh
trong ngôi nhà này? Có thể nói rằng, thật là một bản hòa tấu của những khuôn mặt
và những cuộc đời. Những chuyện - tuyệt nực cười cũng có mà cũng có những nỗi buồn
đau xé lòng diễn ra hàng ngày, hàng ngày chung đụng, chen chúc sống quần tụ
trong ngôi nhà nhiều hộ này Nhất là vào
những buổi tối mùa hè mất điện nóng như hầm phải ra sân ngồi hóng gió tới
khuya, hoặc những khi cùng bà con chầu chực trước cái vòi máy nước độc nhất cho
cả ba tầng tứ mùa khốn khổ khốn nạn tóc tách từng giọt, còn thiếu chuyện gì nữa
về đời sống trong nhà ngoài phường mà Kiên chưa được nghe.
Người ta kể chuyện rằng bà giáo Thủy ở
tầng một góa chồng từ ngoài dôi
mươi, ở vậy nuôi con suốt bấy nhiêu
năm giời, nay sắp sửa về hưu và cũng sắp sửa có cháu ngoại rồi, bỗng dưng phải
lòng ông Tư bán sách ở đầu phố, cả hai ông bà đều cố giấu nhưng giấu nổi ai bởi
giữa họ rõ ràng là tình yêu chứ có phải là tình gì mà che giấu nổi, hẳn hoi là
sẽ chuốc lấy khổ. Hay như chuyện nhà Cường ở tầng ba, bữa nọ anh chồng rượu vào
lên cơn hùng hổ toan dạy vợ, không ngờ trông gà hóa cuốc nhè ngay đầu bà mẹ đẻ
ra mình mà hạ đo ván.
Mới đây nhất là chuyện ông Tánh tầng
hai, đại úy quân nhu về vườn, do quá nghèo khổ, gia đình lại lục đục băm bổ đay
nghiến nhau từng bát cơm, sinh quẫn ông toan tự tử một lần bằng thừng, một lần
bằng thuốc trừ sâu nhưng đều bị người ta phát giác cứu sống. ấy vậy mà tình cảnh
của ông đại úy vẫn còn khá so với nông nỗi bà cụ Sen mù lòa góa bụa, mẹ của hai
liệt sĩ bị vợ chồng anh cháu họ lập mưu cướp mất nhà và đẩy cụ vào nằm chết
trong sở điên Trâu Quỳ. Mà anh cháu họ của cụ không chỉ giàu có, anh còn thông
minh tài cán, tính tình xởi lởi, tốt nghiệp đại học kinh tài, hay đi nước
ngoài, biết hai ngoại ngữ.
💥Mua sách Nỗi buồn chiến tranh tại đây 💥
Tác giả: Bảo Ninh (tên thật Hoàng Ấu Phương), là một cựu chiến binh, nhập ngũ năm 17 tuổi (1969) và chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên. Sau chiến tranh, ông tham gia công tác quy tập hài cốt liệt sĩ, một công việc đầy ám ảnh.
Thời Tác phẩm được viết vào năm 1987, trong bối cảnh văn học Việt Nam bước vào giai đoạn Đổi mới, khi các nhà văn bắt đầu có xu hướng nhìn nhận chiến tranh một cách chân thực và đa chiều hơn, thoát khỏi lối mòn lý tưởng hóa.
Ban đầu có tên là "Thân phận của tình yêu".Được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1990 với tên "Nỗi buồn chiến tranh".
Tác phẩm đã đoạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 (nhưng sau đó giải thưởng bị thu hồi do phản đối). Tác phẩm từng bị cấm phát hành trong nước (khoảng 1993–2005) nhưng vẫn lưu hành không chính thức, sau đó được phép tái bản trở lại.
🗣️ Các ý kiến xung quanh
"Nỗi buồn chiến tranh" là một trong những tác phẩm gây tranh cãi lớn nhất trong văn học Việt Nam đương đại, đồng thời lại được quốc tế đón nhận nồng nhiệt.
1. Ý kiến ủng hộ và đánh giá cao (Trong nước và Quốc tế)
Tính nhân bản và phản chiến sâu sắc: Tác phẩm không tập trung vào chiến công, anh hùng ca, mà đi sâu vào mặt trái, sự hủy diệt của chiến tranh đối với tâm hồn, nhân tính của con người, bất kể phe thắng hay thua.
Vinh danh Quốc tế: Được dịch ra nhiều thứ tiếng và được giới phê bình quốc tế xem là "cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam" và "thành tựu lớn nhất của văn học Đổi mới".
2. Ý kiến phản đối và tranh cãi
Phê phán cách nhìn phi anh hùng: Một bộ phận công chúng và phê bình cho rằng tác phẩm đã "hạ thấp tính anh hùng" của quân đội và "nhen nhóm sự lật sử" thông qua việc tập trung quá nhiều vào nỗi buồn, sự tàn khốc, và sự đổ vỡ (như mối tình Kiên - Phương).
"Phủ nhận tính chính nghĩa": Có ý kiến cực đoan suy diễn rằng việc viết về nỗi buồn và mất mát là "phản chiến" và phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, mặc dù các nhà văn, nhà phê bình khác khẳng định tác phẩm chỉ là cái nhìn trung thực, nhân văn từ góc độ người lính, không phủ nhận chiến công.

0 comments Blogger 0 Facebook
Post a Comment